xem bong da trưc tuyen

  • Sự đóng góp
  • Thời gian cập nhật 26/10/2021
  • 3 readings
  • Rating 0
  • great
  • Step on

Giới thiệu về xem bong da trưc tuyen

xem truc tiep bong da hom nay

Ảnh hưởng của việc thị trường hóa lãi suất đối với cơ cấu tài chính của các công ty niêm yết

  • Sự đóng gópBai Zhou
  • Cập nhật thời gian2017-12-23
  • Đọc418 lần
  • ghi bàn4
  • tuyệt vời27
  • Bước lên0
Tóm tắt: Bài viết này bắt đầu với tác động lý thuyết của thị trường hóa lãi suất đối với hành vi tài trợ và chi phí tài trợ của các công ty niêm yết và nhận thấy rằng tỷ lệ nợ hiện tại của các công ty niêm yết giảm dần sau khi thị trường hóa lãi suất. Việc thực hiện thị trường hóa lãi suất thúc đẩy quá trình tiêu chuẩn hóa và tính minh bạch của các hoạt động tài chính doanh nghiệp, và Tỷ trọng các khoản vay thanh khoản ngắn hạn sẽ tăng lên, và hoạt động kinh doanh chính của các tổ chức tài chính sẽ chuyển từ kinh doanh ủy thác sang kinh doanh chứng khoán và chi phí tài trợ giữa các doanh nghiệp có thể cao hơn. Cuối cùng, từ việc cải thiện cơ cấu quản trị công ty, thiết lập cơ chế tài chính đa dạng và hệ thống cảnh báo sớm rủi ro doanh nghiệp, và cải thiện hệ thống quản lý tài chính của công ty, các công ty niêm yết đã đề xuất các chiến lược ứng phó với thị trường hóa lãi suất.

Từ khóa: thị trường hóa lãi suất; công ty niêm yết; cơ cấu tài chính

1. Tác động lý thuyết của thị trường hóa lãi suất đối với cơ cấu tài chính

Việc thực hiện thị trường hóa lãi suất sẽ thúc đẩy việc hoàn thiện các cơ chế khuyến khích và hạn chế đầu tư, đồng thời doanh nghiệp cũng sẽ chiếm vị trí quan trọng hơn trong hoạt động đầu tư và tài trợ. Bởi vì nó thay đổi mức lãi suất được xác định bởi cung và cầu thị trường, có nghĩa là, người chịu rủi ro là người đưa ra quyết định. Thị trường hóa lãi suất có lợi cho việc tăng cường sự nhiệt tình cho vay của các ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc phân bổ nguồn lực công bằng và hợp lý hơn, để các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ có nhiều cơ hội tài trợ hơn, môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn. .

(1) Thị trường hóa lãi suất sẽ làm thay đổi hành vi tài trợ của các doanh nghiệp, làm cho các doanh nghiệp thiên về vay nợ

Hầu hết các quốc gia đã thực hiện cải cách lãi suất theo định hướng thị trường đã trải qua sự kìm hãm nguồn tài trợ vốn cổ phần và sự gia tăng mạnh mẽ trong quá trình cải cách của họ. Ví dụ, trong giai đoạn đầu của thị trường hóa lãi suất của Hoa Kỳ, tức là trong những năm 1960, tốc độ tăng nợ trung bình hàng năm của Hoa Kỳ là khoảng 7,3%. Với việc liên tục thực hiện các cải cách thị trường lãi suất, tốc độ tăng trưởng trái phiếu đạt 11,1% trong những năm 1970 và tăng lên 14% vào năm 1984, trong khi tốc độ tăng của tài trợ vốn cổ phần tương đối chậm so với tài trợ trái phiếu trong cùng thời kỳ. Về lý thuyết, chi phí cao nhất của các phương thức tài trợ khác nhau là tài trợ vốn cổ phần, nhưng các công ty Trung Quốc đều mong đợi đủ điều kiện để niêm yết và các công ty niêm yết thích huy động vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu hoặc phân bổ mới. Có hai lý do chính cho điều này: Thứ nhất, chi phí tài trợ vốn cổ phần của các công ty niêm yết ở Trung Quốc chủ yếu đến từ cổ tức, nhưng tỷ lệ chi trả cổ tức của hầu hết các công ty niêm yết ở Trung Quốc không cao và chi phí tài trợ vốn cổ phần rất thấp, gần như bằng không; thứ hai, do Nhà đầu tư chủ yếu là các nhà đầu tư nhỏ lẻ, và hoạt động và quản lý của các công ty niêm yết không thể được giám sát một cách hiệu quả. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán Trung Quốc đang dần trưởng thành, số lượng và tỷ lệ các nhà đầu tư tổ chức cũng ngày càng tăng, họ có đủ khả năng giám sát và quản lý hoạt động quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, do đó đặt ra yêu cầu cao hơn về cổ tức và cổ tức của doanh nghiệp. chi phí tài trợ vốn cổ phần của doanh nghiệp, thì các công ty niêm yết có thể áp dụng các phương thức tài trợ bằng nợ như vay ngân hàng và trái phiếu doanh nghiệp.

(2) Thị trường hóa lãi suất có thể làm tăng chi phí đầu tư và tài chính của doanh nghiệp

Trung Quốc luôn thực hiện kiểm soát lãi suất, điều này đã khiến lãi suất chính thức của Trung Quốc lệch so với mặt bằng lãi suất thực tế của thị trường trong một thời gian dài. Ngoài ra, trong điều kiện kiểm soát lãi suất, những doanh nghiệp ngoài quốc doanh rất muốn vay vốn được đặt ra với điều kiện vay cao, và tương đối dễ dàng hơn đối với các doanh nghiệp nhà nước xin vay, điều này khiến các doanh nghiệp không -Kinh tế quốc doanh chiếm tỷ trọng nhỏ trong nguồn vốn tín dụng. Một khi thị trường hóa lãi suất bắt đầu, lãi suất tăng sẽ có tác động đến chi phí tài chính của các doanh nghiệp nhà nước, điều này sẽ làm giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, lãi suất cao quá mức sẽ làm tăng đáng kể chi phí tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, làm cho tình hình tài chính vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. tâm huyết đầu tư.

Nhìn chung, những thay đổi về lãi suất sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, và lợi tức cổ phiếu và trái phiếu cũng sẽ bị ảnh hưởng. Đồng thời, khi lãi suất thay đổi, phán đoán về giá trị kỳ vọng về khả năng sinh lời trong tương lai của công ty cũng sẽ thay đổi. Lãi suất tăng sẽ làm tăng chi phí vốn vay của các công ty, đồng thời áp lực lên cổ tức cũng tăng lên và giá cổ phiếu sẽ giảm, ngược lại, với việc giảm lãi suất thì chi phí cho các khoản vay của công ty sẽ giảm xuống, và các công ty sẽ nhiều khả năng kiếm được tiền hơn.

2. Phân tích so sánh cơ cấu tài chính của các công ty niêm yết trước và sau khi tự do hóa lãi suất

Một số học giả nhận thấy rằng nguồn tài trợ từ bên ngoài của các công ty niêm yết ở Trung Quốc chiếm một vị trí quan trọng và nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn, trong khi quy mô của nguồn vốn nội bộ tương đối nhỏ, chỉ chiếm 20% tổng nguồn vốn. Trong tài trợ bên ngoài, cũng có sự khác biệt lớn giữa quy mô tài trợ trái phiếu và tài trợ vốn cổ phần, quy mô tài trợ trái phiếu nhỏ, và tài trợ vốn cổ phần có lợi thế tuyệt đối. Kể từ năm 2004, với sự phát triển không ngừng của thị trường tài chính và việc cải cách thị trường hóa lãi suất không ngừng đi vào chiều sâu, hoạt động tài trợ của các doanh nghiệp niêm yết cũng đã có những thay đổi mới. Bảng 1 là thống kê tình hình tài chính của các công ty niêm yết từ năm 2008 đến năm 2016.

Theo Bảng 1, tổng tài trợ vốn chủ sở hữu của các công ty niêm yết năm 2008 là 157,6 tỷ nhân dân tệ, trong khi trái phiếu doanh nghiệp chỉ là 28,8 tỷ nhân dân tệ, và số lượng tài trợ trái phiếu rõ ràng là thấp. Năm 2009, nguồn vốn chủ sở hữu thậm chí đạt 197,58 tỷ NDT, và nguồn vốn trái phiếu chỉ đạt 638,4 tỷ NDT. Cho đến năm 2011, nguồn tài chính trái phiếu bắt đầu thay đổi đáng kể, số lượng tài trợ trái phiếu bắt đầu tăng lên, đạt 126,22 tỷ nhân dân tệ vào năm 2011, ít hơn một chút so với tài trợ vốn cổ phần.Trong ba năm tiếp theo 2012, 2013 và 2014, tài trợ trái phiếu đã tăng lên đáng kể và đã vượt qua tài trợ vốn chủ sở hữu vào năm 2012.

Theo Bảng 2, trước năm 2010, tài trợ vốn cổ phần của các công ty niêm yết chiếm tỷ trọng lớn và có lợi thế tuyệt đối, trong khi tỷ trọng tài trợ bằng trái phiếu tương đối nhỏ. Năm 2008, tài trợ vốn cổ phần của các công ty niêm yết chiếm 62% tỷ lệ tài trợ, tài trợ trái phiếu chiếm 38% tỷ tổng tỷ lệ. Từ năm 2010, tỷ trọng tài trợ bằng trái phiếu tăng dần, đến năm 2012, tỷ trọng tài trợ bằng trái phiếu chiếm 56% tỷ trọng tài trợ, lần đầu tiên vượt mức 44% vốn chủ sở hữu. Năm 2013, tỷ lệ tài trợ trái phiếu tăng lên 59% và tỷ lệ tài trợ vốn cổ phần giảm xuống còn 41%.

Sự thay đổi của tỷ lệ tài trợ vốn chủ sở hữu cũng sẽ có tác động đến tỷ lệ tài sản - nợ phải trả. Trước năm 2004, mức độ tổng thể của tỷ lệ nợ trên tài sản là thấp, nhưng với việc dỡ bỏ lệnh cấm đối với các doanh nghiệp lớn và nhỏ, cải cách thị trường vốn tiếp tục sâu sắc hơn, và tỷ lệ nợ trên tỷ lệ tài sản của các công ty niêm yết đã tăng lên trong những năm gần đây. Bảng 3 là bảng so sánh tỷ lệ tài sản - nợ phải trả của các công ty niêm yết từ năm 2005 đến năm 2011.

Theo Bảng 3, tỷ trọng nợ ngắn hạn của các công ty niêm yết ở Trung Quốc về cơ bản được duy trì ở mức khoảng 50%, là 52,6% năm 2005. Năm 2006 là 53,5%, năm 2007 là 50,1%, năm 2008 là 53,1%, năm 2009 là 50,2%, và 50,2% vào năm 2010. Tỷ lệ này là 52,4%, năm 2011 là 55,1% và năm 2016 đã tăng lên 60,1%. Tỷ lệ nợ hiện tại về cơ bản được duy trì ở mức khoảng 40% trước năm 2011 và được niêm yết lên khoảng 70% vào năm 2016. Nói chung, một tỷ lệ nợ ngắn hạn cao quá mức sẽ làm cho tình hình tài chính của công ty xấu đi, và thậm chí có khả năng phá vỡ chuỗi vốn. Kể từ khi thị trường hóa lãi suất, các công ty niêm yết tại Trung Quốc đã bắt đầu có những động thái nhằm kiểm soát và ổn định tỷ trọng nợ ngắn hạn nhằm điều tiết rủi ro do lãi suất thường xuyên thay đổi.

Gần đây, cấu trúc vốn của các công ty niêm yết ở Trung Quốc đã ở trạng thái tương đối ổn định, tuy nhiên cũng có những thay đổi lớn trong việc lựa chọn phương thức tài trợ. trái phiếu năm 2012..

3. Tác động tài chính của thị trường hóa lãi suất đối với những thay đổi trong cơ cấu tài chính của các công ty niêm yết

Quản lý tài chính doanh nghiệp là việc quản lý hoạt động đầu tư (mua tài sản), tài trợ (tài trợ vốn), hoạt động (dòng tiền hoạt động) và phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp theo yêu cầu của mục tiêu tổng thể. Với việc cải cách thị trường lãi suất không ngừng sâu rộng, tình hình hoạt động không chắc chắn của các công ty niêm yết ngày càng gia tăng, điều này đã thúc đẩy các công ty phải liên tục cải thiện công tác quản lý tài chính của mình. Ngoài ra, việc thực hiện thị trường hóa lãi suất cũng sẽ giúp hoạt động tài chính doanh nghiệp được chuẩn hóa và minh bạch hơn.

Theo thống kê, mức nợ của các công ty niêm yết nhìn chung thấp hơn nhiều so với các công ty thông thường. Do đó, việc thị trường hóa lãi suất sẽ làm thay đổi cơ cấu vốn của công ty và cơ cấu kỳ hạn cho vay, cũng như tăng lãi suất cho vay, nhưng lãi suất cho các công ty niêm yết sẽ không thay đổi nhiều. Sau khi thực hiện cải cách thị trường lãi suất, chênh lệch lãi suất của các loại cho vay sẽ tăng lên, để đáp ứng nhu cầu về vốn dài hạn và khả năng thanh khoản, các doanh nghiệp sẽ áp dụng các phương pháp hiệu quả hơn để sử dụng các kỳ hạn và cơ cấu khác nhau dựa trên Do đó, tỷ trọng cho vay thanh khoản ngắn hạn sẽ tăng lên.

Việc thực hiện tự do hóa lãi suất có những tác động khác nhau đến các loại hình công ty niêm yết. Đối với các doanh nghiệp ngân hàng, trong quá trình thực hiện cải cách thị trường hóa lãi suất, các ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro hoạt động lớn hơn. Rủi ro chủ yếu đến từ việc lợi nhuận ngân hàng giảm do tỷ trọng nợ xấu tăng và chênh lệch tiền gửi - cho vay bị thu hẹp, điều này cũng làm tổn hại đến sự ổn định của ngân hàng ở một mức độ nào đó. Đối với một số công ty tài chính khác, mặc dù tác động của thị trường hóa lãi suất không trực tiếp như tác động đến các ngân hàng, nhưng nó cũng sẽ có tác động nhất định đến quản trị rủi ro, cơ cấu kinh doanh và lợi nhuận hoạt động của họ. Hoạt động kinh doanh chính của các công ty doanh nghiệp này sẽ chuyển dần từ hoạt động kinh doanh ủy thác ban đầu sang kinh doanh chứng khoán.

Sau khi thị trường hóa lãi suất ra đời, những thay đổi về lãi suất trở nên không chắc chắn hơn, điều này sẽ làm tăng rủi ro về chi phí tài chính và chi phí tài chính có xu hướng không chắc chắn. Đồng thời, các công ty sẽ có những tác động khác nhau do thế mạnh riêng của họ và xếp hạng tín nhiệm khác nhau. , họ có thể phải đối mặt với lãi vay cao hơn.

4. Phân tích chiến lược phản ứng của các công ty niêm yết đối với thị trường hóa lãi suất

(1) Cải thiện hệ thống công ty và liên tục cải tiến cơ cấu quản trị công ty

Thúc đẩy phát triển hiện đại hóa hệ thống của công ty, cải tiến cơ cấu quản trị công ty, nâng cao sức mạnh của công ty, khả năng sẵn có của nguồn vốn và tăng khả năng thương lượng về tài chính. Bất kể kênh tài trợ nào, nếu một công ty muốn có được nguồn vốn ở mức giá tốt, thì sức mạnh và xếp hạng tín nhiệm của công ty là rất quan trọng. Các phương thức tài trợ khác nhau có những yêu cầu khác nhau đối với doanh nghiệp, do đó, khi doanh nghiệp phát triển, doanh nghiệp cần có ý thức củng cố lợi thế của mình, xây dựng chiến lược tài trợ phù hợp hơn và có được sự hỗ trợ của cơ cấu vốn tối ưu. Mặc dù nhận thức về tín dụng của các công ty niêm yết ở Trung Quốc đã được cải thiện rất nhiều so với trước đây, nhưng một số công ty vẫn có mức độ tín nhiệm thấp. Các công ty niêm yết cần tiếp tục tăng cường xây dựng tính liêm chính, tạo nền tảng cho hoạt động tài trợ của doanh nghiệp và thiết lập mối quan hệ tín dụng tốt với các ngân hàng và các tổ chức khác bằng cách tạo ra một môi trường tài chính thuận lợi.

(2) Thiết lập cơ chế tài trợ đa dạng và điều chỉnh cơ cấu vốn

Cơ cấu vốn đề cập đến tỷ lệ nợ của công ty trên vốn chủ sở hữu, ở mức độ lớn phản ánh khả năng trả nợ, khả năng sinh lời và khả năng tài trợ của công ty. Một cơ cấu vốn phù hợp giúp đóng vai trò đòn bẩy tài chính và giảm chi phí tài chính. Với việc cải cách thị trường lãi suất ngày càng sâu rộng, cùng với rủi ro tài chính ngày càng phức tạp, việc thay đổi lãi suất ngày càng trở nên phức tạp và thường xuyên hơn, do đó, các công ty niêm yết không thể chỉ bó hẹp trong việc tài trợ bên ngoài mà phải xem xét các quỹ ngân hàng hay quỹ nhà nước truyền thống. , Các nguồn vốn sẵn có khác cũng nên được sử dụng để mở rộng các kênh tài trợ của các công ty niêm yết, theo đuổi cơ cấu cân bằng tài chính năng động và học cách chủ động hơn là chỉ chờ xem những thay đổi, dựa trên các đặc điểm của sự thay đổi lãi suất và kết hợp Ưu nhược điểm của các phương thức tài trợ khác nhau, Lựa chọn cơ cấu vốn phù hợp để giảm thiểu rủi ro và tối ưu hóa các điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.

(3) Thiết lập hệ thống cảnh báo sớm rủi ro doanh nghiệp và xây dựng cơ chế ứng phó rủi ro

Trong môi trường thị trường hóa lãi suất, các công ty phải tăng cường khả năng kiểm soát và ứng phó rủi ro của mình, thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro do lãi suất thường xuyên biến động, giám sát các yếu tố chính trong hệ thống cảnh báo rủi ro và thực hiện các biện pháp hữu hiệu càng sớm càng tốt để ứng phó với các rủi ro có thể xảy ra. Trên cơ sở xem xét tình hình tài chính của công ty, sự thay đổi của lãi suất được phân tích và xác định một cơ cấu tài chính hợp lý nhằm giảm thiểu chi phí chiếm dụng vốn của công ty và thúc đẩy xu hướng liên tục của cơ cấu tài chính của công ty đối với cơ cấu tài chính tốt nhất. Một mặt, nó có thể giảm chi phí tài chính của chính công ty, và mặt khác, nó cũng có lợi để giảm rủi ro tài chính mà công ty phải đối mặt. Môi trường thị trường hóa lãi suất đòi hỏi các công ty niêm yết phải quan tâm hơn đến rủi ro nội tại của doanh nghiệp và tăng cường khả năng kiểm soát rủi ro. Với môi trường rủi ro tài chính ngày càng phức tạp, các công ty niêm yết trên cơ sở hiểu đúng về điều kiện thực tế của mình, phải cải thiện việc sử dụng vốn, giảm chi phí tài chính và thúc đẩy sự phát triển hợp lý của cơ cấu tài chính doanh nghiệp.

(4) Thiết lập và cải tiến các cơ chế cảnh báo sớm về tài chính doanh nghiệp và hệ thống quản lý tài chính.

Thị trường hóa lãi suất ra đời phù hợp với sự phát triển của thời đại. Trước tiên, bài viết này phân tích những tác động này, sau đó đưa ra các đề xuất liên quan về cách xây dựng lại cơ chế tài chính doanh nghiệp cho các công ty niêm yết ở Trung Quốc trong điều kiện thị trường hóa lãi suất. Các công ty niêm yết cần đi sâu xây dựng hệ thống tín dụng, nâng cao khả năng đối phó với rủi ro, tăng cường kênh tài trợ, tạo môi trường tài chính tốt, giữ cho cơ cấu tài chính của công ty ở trạng thái cân bằng động. các biện pháp giảm tài chính.Chi phí và tiếp tục đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn tự có, chỉ có như vậy doanh nghiệp mới có thể phát triển lâu dài.

Trước: Phân tích về giai đoạn phát triển và chiến lược tài trợ của các công ty niêm yết
Kế tiếp: Đề xuất khiêm tốn về vai trò và giá trị của quản lý tài chính trong hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

Chúc các bạn đọc tin xem bong da trưc tuyen vui vẻ!